Tính cách Bovary (Bovarysme)

Nhân vật Emma Bovary trong cuốn Bà Bovary của nhà văn Gustave Flaubert .

Nàng Emma Bovary, “tính cách Bovary” (bovarysme) trở thành một thành ngữ trong ngôn ngữ Pháp nói về sự khập khiễng giữa ảo vọng lãng mạn và cái tầm thường, thô kệch của cuộc sống.

Emma Bovary

Emma xuất thân từ một gia đình nông dân khá giả, được giáo dục tử tế. Nàng thông minh, xinh đẹp và có một niềm đam mê mãnh liệt với sách vở, đặc biệt là tiểu thuyết trữ tình.

Nàng mơ về một cuộc sống diễm lệ đẹp đẽ, nhưng cả đời nàng chỉ mãi là theo đuổi một giấc mộng phù du. Nàng bị đẩy vào những cơn vỡ mộng liên tiếp nhau.

Emma lấy một người chồng hiền lành và tốt bụng đến mức trở nên tẻ nhạt và nhàm chán. Anh chồng thầy thuốc ấy khiến nàng ngạt thở, căm tức, và càng đẩy nàng trượt dài trong những mối tình với chàng luật sư trẻ tuổi Leon, hay gã Dodophole nhiều mưu mẹo. Nàng trở nên phóng đãng, và trở thành một người đàn bà ngoại tình xấu xí. Nàng sẵn sàng bỏ chồng, bỏ cả người con gái bé nhỏ để lên kế hoạch chạy trốn cùng những người tình. Nhưng rồi, tất cả họ đều bạc nhược và phụ bạc tình yêu mãnh liệt của nàng. Họ bỏ rơi nàng, khiến nàng rơi mãi trong cơn tuyệt vọng, giấc mộng tan vỡ vĩnh viễn.

Nàng phải được yêu. Nếu không được yêu nàng chỉ là một thân xác vật vờ điên dại. Nhưng cái hiện thức nghiệt ngã đã xô đẩy nàng đến tận cùng tuyệt vọng. 

Chỉ có cái chết mới giúp nàng thoát khỏi nỗi đau đớn của một bị kịch mà trái tim nhạy cảm và tâm hồn yêu đương mãnh liệt của nàng sẽ không bao giờ chịu giàn hòa với hiện thực nhiều khắc nghiệt

Emma là người con gái đáng trách, đáng giận, nhưng cũng đáng ngưỡng mộ và mê đắm. Nàng là bi kịch của một tâm hồn khao khát yêu đương giữa hiện thực đời sống. Nàng Emma Bovary, “tính cách Bovary” (bovarysme) trở thành một thành ngữ trong ngôn ngữ Pháp nói về sự khập khiễng giữa ảo vọng lãng mạn và cái tầm thường, thô kệch của cuộc sống. Nàng Emma thực đã chết vì một giấc mộng ái tính suốt đời hư ảo và đau đớn.

Tham khảo từ Trạm đọc. http://tramdoc.vn/tin-tuc/ba-bovary-do-la-toi-nb1w8W.html

Tôi thấy mình thoát ẩn thoát hiện đâu đó trong tác phẩm này của ông Flaubert.

Giữa hai chiều quên nhớ

Bùi Sim Sim

Chưa đủ nhớ để gọi là yêu

Chưa đủ quên để thành người xa lạ

Em ám ảnh anh hai chiều nghiệt ngã

Nghiêng bên này lại chống chếnh bên kia

Ngôi sao nào thổn thức giữa trời khuya

Dịu dàng quá lời thì thầm của gió

Ngủ ngoan thôi ngọn cỏ mềm bé nhỏ

Biết đâu chừng thiên sứ đến vây quanh

Trái tim đa mang chở tình yêu tròng trành

Thương với nhớ lắc lư nhịp sóng

Em là gì giữa bốn bề vang vọng

Anh nghẹn lòng khi thốt gọi thành tên.

Đừng đếm gà trước khi trứng nở

Don’t count eggs before they hatch

You should not make plans that depend on something good happening before you know that it has actually happened
For example:
She wanted to buy a dress in case someone asked her to the dance, but I told her not to count her chickens before they hatched.

Giả sử tôi có 1 giỏ trứng gồm 10 quả gà, làm sao để đảm bảo được rằng, 10 quả trứng đó sẽ nở ra 10 con gà.

Một người phụ nữ mang sữa ra chợ bán. Cô đội trên đầu bình sữa to và bắt đầu suy nghĩ về những việc cô sẽ làm sau khi bán hết chỗ sữa. “Với số tiền này, mình sẽ mua 100 con gà rồi thả trong sân. Khi chúng lớn lên, mình sẽ bán số gà đó lấy tiền đổi quần áo và những vật dụng khác…”

Cô vẫn tiếp tục đi và không ngừng suy nghĩ về những việc sẽ làm kế tiếp, “Sau đó mình sẽ mua hai con dê non tại mỗi bãi cỏ gần nhà. Khi chúng lớn lên, mình sẽ bán lại với giá cao hơn”.

Tiếp tục suy nghĩ và tự nhủ với bản thân, “Sẽ sớm thôi, mình lại mua tiếp một con bò, rồi mình sẽ bán sữa để lấy tiền….” .

Đang mải mê với những suy nghĩ, bất chợt cô bị vấp phải một hòn đá và ngã nhào ra trước. Chiếc bình sữa bị đổ, vỡ vụn. Tất cả số sữa cô vất vả có được từ ngày hôm qua đã không còn. Không còn những mơ ước nào cả, cô ngồi sụp xuống và khóc.

Đừng vẽ ra viễn cảnh tươi sáng trước mắt, vì chưa chắc gì những gì bạn muốn sẽ thành hiện thực.
Bớt mơ mộng đi, và sống thực tế hơn đi!!!

Chuyến bay đầu năm

Đó là một buổi chiều đầu năm mới, trên may bay VJ từ Vinh vào Tp.HCM …

Ngày hôm đó, cũng như mọi lần khác của Hãng VJ … Delay 1 tiếng. Tôi có phần mệt mỏi và đau đầu. Tôi chỉ muốn ngủ, và tôi đã làm vậy khi đặt lưng vào ghế máy bay. Cơn mệt của tôi làm tôi thiếp đi lúc nào không hay. Và dẫu cho bao sự ồn ào của hành khách lên máy bay, không hề cản trở tôi chìm vào giấc ngủ !!!

Máy bay cất cánh và hệ thống báo giây an toàn được mở. Tôi vẫn không hề hay biết. Mãi cho đến khi, cậu bé 7 tuổi, ngồi cạnh cửa sổ, ở giữa là mẹ của cậu bé, đòi ăn mỳ tôm và thèm cà phê :D. Đúng là những cậu nhóc hiếu kỳ 😛

Chuyến bay ấy của VJ, nhưng hôm đấy đi tàu bay của hãng nước ngoài nào đó tôi không rõ (mệt lã người nên không thèm quan tâm đang đi đâu về đâu =)). Sau khi tôi đã có 1 giấc ngủ đủ để hồi thức lại mình đang làm gì ở đâu thì tôi nhận ra, mẹ cậu bé đang cố gắng hỏi cô tiếp viên về ly cà phê và gói mỳ tôm. Tôi bị tỉnh giấc bởi tôi ngồi ở giữa cuộc đối thoại giữa Tây và Ta. Khi tôi đã hiểu được tình thế lúc đó, và lúc đó thì cô tiếp viên cũng đã đi rồi. Tôi quay sang hỏi mẹ cậu bé:

  • Cháu í muốn ăn gì hả chị?
  • Nó muốn uống cà phê và ăn mỳ tôm.

Tôi nhìn cậu bé, cậu bé bị méo miệng, và tôi đã nghĩ cậu ấy bị bệnh. Tôi thấy thương cảm với tình huống đó. Tôi nói với cậu ấy là “Cô nghĩ Cà phê không hợp với cháu đâu, cháu ăn mỳ tôm không? Cô đặt mua giúp cháu nhé?”. Và nó gật đầu cái rụp 😀 trẻ con thật dễ thương.

Tôi gọi cô tiếp viên xinh đẹp, order tô mỳ lẩu thái, chua cay (chợt nhớ ra cũng thèm phết). Tôi đã trả tiền cho tô mỳ đó.

Trong lúc chờ tô mỳ tới, tôi đã tám với mẹ bé. Chị í còn trẻ, và bé là đứa thứ 3 trong gia đình. Chị bảo, gia đình nghèo nhưng muốn đông con, nên cố gắng sinh đứa này. (Đứa cả đã 24 tuổi !)

Tôi không tự đánh giá cao khả năng nhìn người của mình, nhưng nhìn qua và nói chuyện với chị, tôi thấy con người chị chân thật, không hề có sự giả vờ nào là nghèo khổ hay cần sự thương cảm của ai đó. Chị lạc quan và thương cậu con trai của mình. Cậu bé bị U não lan tỏa !!!

Khi tôi nghe đến đấy tôi thấy mình như chùng xuống. Một cuộc đời dài phía trước của cậu bé đã bị căn bệnh u não chiếm lấy ! Chị bảo, bệnh viện Bạch Mai (Hay bệnh viện gì đó tôi không nhớ tên chính xác) đã trả về. U não lan tỏa giống như san hô trong não vậy đó. Nó cứ ngày càng ngày lan ra trong khối não và to dần lên. Cậu bé bị méo miệng là từ khi Sinh tiết 1 phần nhỏ khối u. Vết khâu phía sau, gần gáy đã để lại sẹo !

Vào 1 ngày đẹp trời, đi học về, cậu bé bảo với mẹ con bị đau đầu quá mẹ ơi. Và tiếp theo là những cơn sốt cao. Lên bệnh viện thì được chẩn đoán là u não. Ra Hà Nội, thì bệnh viện trả về. Bảo giờ mổ cũng khó lòng qua khỏi.

Chị đưa bé về, và nghe nói ở Đồng Nai có ngôi chùa nào đó, có mấy vị thuốc Nam, có thể làm giảm khối u. Giờ chị chỉ biết trông chờ vào phép màu mà thôi.

Chị sợ độ cao, nên đây là lần đầu tiên chị đi máy bay. Thằng bé vẫn ngô nghê hỏi mẹ những câu hỏi dễ thương và ăn ngon lành tô mỳ của nó.

Hỏi thăm, ai sẽ đón chị ở sân bay, chị bảo bạn của chông chị sẽ đón, chồng chị đã ở Đồng Nai rồi. Cả cuộc đời 2 vợ chồng sinh sống kiếm ăn từ Nam ra Bắc. Khi thì buôn bán ở chợ, khi thì bán cá viên chiên, khi thì xây dựng…đủ việc. Giờ về định cư ở Thanh Hóa.

Tôi đã hỏi tên chị và bé, và tôi đã quên mất tên của họ. Nghĩ ra mình cũng tệ thật, nhất trong khoản nhớ tên ai đó !

Tôi đã đưa cho chị í 200k với mong muốn giúp đỡ chút ít tiền đi lại cho cậu bé. Thật ra lúc đó trong ví của tôi chỉ còn 300k nữa. Tôi chả dùng tiền mặt nhiều nên trong lúc đó, số tiền tôi có thể giúp chỉ có vậy.

Lúc máy bay hạ cánh, tôi giúp chị lấy hành lý ở phía trên. Chiếc túi đựng đồ chị í cũ kỹ, còn hỏng cả khóa kéo. Mẹ con bế nhau còn tôi xách túi đồ giúp chị í. Vừa đi vừa nghĩ, mình thế này cũng còn may chán.

Lúc ra khỏi sân bay, tôi tạm biệt 2 mẹ con và hy vọng phép màu nhiệm sẽ đến với họ.

Tôi gọi xe đi về, cũng mệt mỏi và đầy suy nghĩ.

Chuyến bay này tôi nhớ mãi.

Chuyến bay đó cũng là chuyến bay, sau khi tôi về quê để nhìn Bà Nội tôi lần cuối …

02/01/2020.

Các lý thuyết về nhân cách

Có 9 lý thuyết về nhân cách được áp dụng phổ biến hiện nay gồm:
1. Lý thuyết phân tâm học của Freud
2. Lý thuyết phân tâm học của Carl Jung
3. Lý thuyết của Alfred Adler
4. Lý thuyết 8 giai đoạn phát triển của Erikson
5. Lý thuyết về nét nhân cách của Gorldon Allport
6. Lý thuyết hành vi về nhân cách của B. F. Skinner
7. Lý thuyết nhân cách về cách tiếp cận học tập xã hội của Bandura
8. Lý thuyết nhu cầu về nhân cách của Maslow
9. Lý thuyết tâm lý học hoạt động về nhân cách của Vưgotxki

Lý thuyết phân tâm học của Freud

S. Freud là một nhà phân tâm học nổi tiếng người Áo. Hệ thống lý thuyết của ông là lý thuyết chính thống đầu tiên về nhân cách, có ảnh hưởng sâu rộng tới các học thuyết sau này. 

Khi đề cập đến vấn đề nhân cách, ông đưa ra các khái niệm về vô thức, cấu trúc nhân cách và các giai đoạn để hình thành và phát triển nhân cách. 
Về vô thức, Freud cho rằng hành vi vô thức không bắt nguồn từ hành vi ý thức đã bị lãng quên, chìm vào quá khứ, và ngủ im trong đời sống tinh thần. Chính hành vi có ý thức có nguồn gốc là hành vi vô thức. Trước khi hành vi trở nên có ý thức thì nó đã trải qua giai đoạn vô thức. Hành vi vô thức là nhân tố chủ yếu quyết định toàn bộ đời sống tâm lý của con người

Về cấu trúc nhân cách, Freud chia ra gồm 3 phần:

  • Cái Nó, tượng trưng cho con người sinh học, hoạt động theo nguyên tắc thỏa mãn.
  • Cái Tôi, tượng trưng cho con người hiện thực, hoạt động theo nguyên tắc thực tế.
  • Cái Siêu tôi, tượng trưng cho con người xã hội, hoạt động theo nguyên tắc đạo đức. 

3 khối này có sự liên hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau tạo nên cấu trúc nhân cách của một con người. 

Ông khẳng định nhân cách con người được xây dựng và định hình lúc 5 tuổi, đây là thời kỳ quan trọng nhất quyết định toàn bộ sự phát triển của một đời người. Freud nhấn mạnh vào những giai đoạn thời thơ ấu, nhấn mạnh sự chi phối của yếu tố bản năng, sinh học.

Lý thuyết phân tâm học của Carl Jung

C. Jung là một người sinh ra ở Thụy Sĩ. Ông được xem như người kế thừa những lý thuyết của Freud. Tuy có khai thác, phân tích dựa trên những nền tảng phân tâm học của Freud nhưng lý thuyết mà Jung mở rộng, phát triển lại có những hướng đi khác so với lý thuyết của Freud. 

C. Jung có sự giải thích về bản chất của Libido khác, và nêu ra một hệ thống các thành phần cơ bản của nhân cách.

Về bản chất Libido, Freud cho rằng đó là năng lượng tình dục, một loại năng lượng mạnh mẽ nhất, có ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của một con người. Jung cho rằng Libido là một loại năng lượng cuộc sống rộng và không phân biệt được. Đó là một loại năng lượng huyền bí kích động tinh thần. Thông qua sức mạnh tinh thần mà những hoạt động ý thức được thực hiện.

Về các thành phần của nhân cách, Jung cho rằng bao gồm:

  • Cái Tôi, trung tâm của ý thức, là nhận thức về chính mình và chịu trách nhiệm thực hiện những hoạt động bình thường trong cuộc sống. Ông nêu ra 8 loại nhân cách khác nhau
  • Vô thức cá nhân, là nơi đã từng được ý thức nhưng bị quên lãng hay xóa bỏ vì nó ít quan trọng hoặc phiền toái. Mọi loại kinh nghiệm các nhân cách được tích lũy trong vô thức cá nhân, chỉ cần có sự nỗ lực về tinh thần là có thể lấy ra sử dụng và đặt nó về lại chỗ cũ. 
  • Vô thức tập thể, Jung cho rằng nếu như mỗi chúng ta tích lũy tất cả những kinh nghiệm trong vô thức cá nhân của mình thì nhân loại như tập hợp các loại tích lũy kinh nghiệm của loài người. Di sản này được truyền lại cho mỗi một thế hệ mới. Bất cứ những kinh nghiệm nào mang tính toàn cầu, những kinh nghiệm được lặp lại, và không thay đổi một cách tương đối sau mỗi thế hệ sẽ trở thành một phần trong nhân cách của chúng ta.

Lý thuyết của Alfred Adler

Alfred Adler là một người có những đóng góp lớn trong nội dung lý thuyết của mình cho ngành Tâm lý học nói chung và các ngành xã hội khác nói riêng. Trong lý thuyết của ông đề cập đến mặc cảm về sự thua kém và thứ tự ra đời của các con trong một gia đình có ảnh hưởng đến nhân cách của từng đứa trẻ.

Về mặc cảm về sự thua kém, Adler cho rằng mặc cảm về sự thua kém chính là tự thấy bản thân mình thua kém so với người khác. Thua kém này có thể xuất phát từ sự thua kém cơ thể, khả năng đối đầu với những khó khăn trong cuộc sống. Ông cho rằng mọi người đều có trạng thái chung này. Có 3 nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự mặc cảm về sự thua kém này bao gồm:

  • Sự thua kém về cơ thể
  • Sự nuông chiều
  • Sự thờ ơ

Cách mà con người vượt qua được những mặc cảm này sẽ định hình và quy định chiều hướng phát triển nhân cách của con người đó. 

Về thứ tự ra đời của các con trong gia đình, Adler cho rằng thứ tự ra đời này có ảnh hưởng không nhỏ đến sự hình thành và phát triển nhân cách của một con người. Ông bàn về 4 vị trí ra đời:

  • Con đầu lòng
  • Con thứ
  • Con út 
  • Con một

Mỗi một vị trí khác nhau có thể đưa đến những mặc cảm, những nét tâm lý khác nhau giữa các con trong cùng một gia đình.

Lý thuyết 8 giai đoạn phát triển của Erikson

Nhắc đến Erikson nghĩa là nhắc đến lý thuyết 8 giai đoạn phát triển về tâm lý xã hội cũng như nhân cách của ông mà Freud gọi là các giai đoạn phát triển tâm lý – tính dục. 
Theo ông, chúng ta phát triển nhân cách như thế nào chính là quá trình mỗi cá nhân đối phó với những mâu thuẫn gặp phải trong các giai đoạn đó. 
8 giai đoạn bao gồm: 

  • Giai đoạn 1 (0 – 1 tuổi): tin tưởng hay nghi ngờ
  • Giai đoạn 2 (2 – 3 tuổi): tự lập hay xấu hổ và nghi nghờ
  • Giai đoạn 3 (3 – 5 tuổi): chủ động hay tội lỗi
  • Giai đoạn 4 (6 – 11 tuổi): chăm chỉ hay tự ti
  • Giai đoạn 5 (12 – 18 tuổi): khẳng định bản thân hay mơ hồ về chính mình
  • Giai đoạn 6 ( 18 – 35 tuổi): thân mật, gần gũi hay tách biệt, cô lập
  • Giai đoạn 7 (35 – 55 tuổi): sinh sản hay trì trệ
  • Giai đoạn 8 (55 đến chết): cái tôi toàn vẹn hay sự thất vọng

Mỗi một giai đoạn phát triển có những khủng hoảng hay bước ngoặt đặc thù của nó đòi hỏi chúng ta cần có vài sự thay đổi trong hành vi và cả trong nhân cách của mình để thích ứng, phù hợp với mỗi giai đoạn.

Lý thuyết về nét nhân cách của Gorldon Allport

Ông cho rằng nhân cách không đơn giản chỉ là sự cộng dồn của hệ thống tâm sinh lý mà nó là sự kết hợp, tác động qua lại một cách năng động của hệ thống tâm sinh lý được biểu hiện, xác định qua hành vi và suy nghĩ tiêu biểu. Nhân cách của 2 người là 2 nhân cách riêng biệt, mỗi người có một nhân cách của mình, không ai giống của ai.

Allport đưa ra khái niệm nét nhân cách, đó là những khuynh hướng thiên về việc cách ta phản ứng lại với các kích thích từ môi trường. Đó là những nét nhất quán, lâu dài về cách phản ứng lại với môi trường. nét nhân cách gồm:

  • Nét nhân cách cốt yếu
  • Nét nhân cách trung tâm
  • Nét nhân cách phụ

Các nét nhân cách này tồn tại trong mỗi chúng ta, chúng xác định hoặc là nguyên nhân của hành vi. Chúng không chỉ bắt nguồn từ việc phản ứng lại một kích thích mà còn thúc đẩy ta tìm kiếm những cách thức phù hợp rồi tác động qua lại với môi trường để tạo ra hành vi. Chúng có liên quan lẫn nhau và đại diện cho những đặc tính khác nhau.

Lý thuyết hành vi về nhân cách của B. F. Skinner

B. F. Skinner là một trong những đại diện tiêu biểu cho trường phái Tâm lý học hành vi. Ông là người đã mở rộng, phát triển hơn lý thuyết hành vi theo một chiều sâu hơn. Từ việc tiến hành thí nghiệm về lồng chuột rất nổi tiếng của mình, ông đã đưa ra các khái niệm quan trọng như hành vi tạo tác, củng cố, trừng phát và đặc biệt, ông cho rằng nhân cách là tổ hợp các hành vi tạo tác. 

Hành vi tạo tác là hành vi được hiểu là loại hành vi được tạo ra bởi chính hiệu quả của nó. Và sự hình thành và phát triển nhân cách chính là sự hình thành, duy trì, thay đổi một hệ thống các hành vi tạo tác để tạo nên một nhân cách ổn định, riêng biệt. 

Hành vi tạo tác đó cần phải có củng cố. Củng có bao gồm củng cố tích cực và tiêu cực. Và không thể thiếu một mặt trong lý thuyết hành vi của Skinner là khái niệm về sự trừng phạt. Sự trừng phạt hoàn toàn khác về mặt bản chất so với củng cố tiêu cực.

Lý thuyết nhân cách về cách tiếp cận học tập xã hội của Bandura

Bandura sinh ra tại Canada, ông đã tiến hành một thực nghiệm rất nổi tiếng đó là thực nghiệm búp bê BoBo. Ông quán sát thực nghiệm của mình và đã rút ra được một số khái niệm cơ bản trong lý thuyết học tập xã hội của mình

Bandura cho rằng “hành vi chúng ta được tập nhiễm thông qua việc quan sát hành vi của người khác và hậu quả của hành vi đó. Do đó việc nghiên cứu về sự hình thành và phát triển nhân cách chính là việc nghiên cứ hành vi tập nhiễm. Ông khẳng định “ai kiểm soát được mẫu hình trong xã hội thì người đó sẽ kiểm soát được hành vi của người khác. 

Quá trình tập nhiễm quan sát phải trải qua các giai đoạn sau: 

  • Quá trình chú ý
  • Quá trình ghi nhớ
  • Quá trình tái tạo
  • Quá trình khích lệ và thúc đẩy

Quá trình tập nhiễm quan sát cũng chính là quá trình hình thành và phát triển nhân cách. Cái cốt lõi nhất trong nhân cách chúng ta là một hệ thống các cơ cấu nhận thức đã được tập nhiễm. Trong đó, bắt chước đóng vai trò quan trọng. Thông qua quá trình này, hành vi được hình thành, đó là sản phẩm của quá trình quan sát, bắt chước những mẫu hành vi của người khác. Tổ hợp những mẫu hành vi này tạo nên nhân cách chúng ta. Nhân cách là tổ hợp những mẫu hành vi mà cá nhân có được thông qua việc tập nhiễm quan sát

Lý thuyết nhu cầu về nhân cách của Maslow

Theo quan niệm của Maslow, sự phát triển của nhân cách chính là quá trình mỗi cá nhân tiến hành các hoạt động khác nhau để thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của mình. Chính quá trình mỗi cá nhân tiến hành các hoạt động khác nhau của mình một cách đa dạng và phong phú để thỏa mãn các nhu cầu của mình quy định chiều hướng phát triển nhân cách của họ. Lý thuyết về sự phát triển nhân cách của ông chính là thang nhu cầu Maslow và cách thức thỏa mãn nhu cầu của mỗi người. 

Maslow đưa ra thang nhu cầu gồm 5 loại nhu cầu bẩm sinh điều khiển hành vi con người:

  • Nhu cầu sinh lý: ăn, uống, tình dục,…
  • Nhu cầu an toàn: sự ổn định, trật tự, an toàn
  • Nhu cầu được chấp nhận và yêu thương
  • Nhu cầu tự trọng
  • Nhu cầu tự thể hiện

Những bản năng này là những bản năng tự nhiên, chịu ảnh hưởng lớn của di truyền. Tuy nhiên các nhu cầu có thể bị thay đổi qua rèn luyện, tập nhiễm. 

Lý thuyết tâm lý học hoạt động về nhân cách của Vưgotxki

Vugotxki là người đặt nền móng cho tâm lý học hoạt động, một nền tâm lý học dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Ông cho rằng “lịch sử phát triển văn hóa của trẻ đưa chúng ta đến lịch sử phát triển nhân cách” hay nói cách khác, sự phát triển nhân cách và thế giới quan của trẻ chính là sự phát triển văn hóa.

Sự phát triển văn hóa ở đây là quá trình hình thành các chức năng tâm lý cấp cao; quá trình làm giảm bớt tính chất trực tiếp của các chức năng tâm lý cấp cao. Quá trình hình thành này gắn liền với quá trình lĩnh hội, tiếp thu các tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng từ bên ngoài.  Gọi khái quát chính là những kinh nghiệm lịch sử  văn hóa, là văn hóa của loài người và chuyển thành các kinh nghiệm của bản thân.
Khi đã trở thành kinh nghiệm của bản thân, nó tác động, chi phối hành vi của mỗi người, chi phối cách thức mà chúng ta phản ứng lại với môi trường, với những kích thích khác nhau. Chính điều đó tạo nên nhân cách riêng biệt của mỗi người. 

Đánh giá nhân cách con người gắn liền với việc xem xét lịch sử phát triển văn hóa, môi trường mà đứa trẻ đó sinh sống. Thực chất đó chính là quá trình chuyển từ kinh nghiệm văn hóa xã hội của loài người vào thành kinh nghiệm cá nhân của đứa trẻ đó.

Tổng hợp

Lối sống: Minimalism; Lagom; Hyggue

Hôm nay mình sẽ tóm tắt đơn giản 3 lối sống mình thấy thú vị của 3 quốc gia thuộc Châu Á, Châu Âu và Bắc Âu.
3 lối sống của 3 quốc gia Nhật Bản _ Thụy Điển _ Đan Mạch
Lối sống tối giản (Minimalism) _ Lối sống vưa đủ (Lagom) _ Lối sống An nhiên (Hyggue)

Minimalism

Minimalism là lối sống cắt giảm đến mức tối thiểu các vật dụng, nhu cầu, chỉ giữ lại những vật dụng cần thiết với những sinh hoạt đơn giản.
Lối sống tối giản không chỉ phản ánh trong việc áp dụng những vật dụng, hình thức bên ngoài, sống tối giản còn đơn giản hóa những thứ bên trong như suy nghĩ, tinh thần, để tập trung vào những vấn đề cần thiết, quan trọng trong cuộc sống.
Danshari là cách giải thoát áp lực vô hình cuộc sống vật chất hiện đại lên tinh thần con người. Lối sống này đang là trào lưu ở Nhật Bản nhất là sau những thảm họa thiên nhiên xảy ra tại quốc gia này. 
Dan _ Từ chối
Sha _ Vứt bỏ
Ri _ Tránh xa

1. Dọn dẹp và vứt bỏ bớt những vật dụng không cần thiết.
Khi bạn mua một đồ vật gì mới, hay vứt đi 1 cái cũ. Vứt hay từ thiện cũng tốt (đối với quần áo). Có thể bạn sẽ còn tiếc nuối nó, nhưng nếu bạn làm từ thiện thì sẽ có người cần đến nó. Vừa tốt cho mình vừa tốt cho người khác.
2. Dọn dẹp những thứ phi vật chất khác. Ví dụ: Không gian số, mạng xã hội, ảnh, video, kho lưu trữ trên laptop.
3. Đơn giản hóa trang phục hằng ngày
4. Suy nghĩ đơn giản

Việc vứt bỏ đồ đạc hay lối sống tối giản không phải là đích đến.
Qua việc vứt bỏ đồ đạc, ta sẽ thoát ra khỏi suy nghĩ lệ thuộc vào đồ đạc, đánh giá con người thông qua đồ đạc, cũng như có nhiều thời gian hơn tập trung cho những việc quan trọng khác. Từ đó tìm ra được hạnh phúc cho bản thân.

Lagom

Lagom là một tính từ dùng để chỉ sự vừa phải, không quá nhiều mà cũng chẳng quá ít. Người Thụy Điển dùng Lagom như một kim chỉ nam chung cho cả dân tộc, hình thành nên phong cách sống, ứng xử, giao tiếp, và thậm chí cả ẩm thực của riêng mình. Lagom là vừa đủ, là thích hợp, là cân bằng nhưng không nhất thiết phải là hoàn hảo nhất.

1. Nói vừa đủ
Sự vừa đủ trong lời nói sẽ khiến bạn giảm thiểu nguy cơ sa vào những hiểu lầm và tranh cãi không cần thiết, cũng đồng nghĩa với việc bạn có ít nguy cơ bị ràng buộc bởi những phiền hà không đáng có, và khả năng tránh xa những ràng buộc chính là tự do.

2. Cảm xúc vừa đủ
Đó chính là sự rộng lượng và kiểm soát cảm xúc, khi mọi thứ đều được tiết chế vừa đủ thì sẽ khó có cơ hội cho những kích động tiêu cực và lệch lạc cực đoan, xã hội sẽ ổn định và hài hòa mà không cần tới những chế tài cứng nhắc, thiếu chặt chẽ.

3. Vật chất vừa đủ
Những ngôi nhà của người Thụy Điển đối lập hoàn toàn với phong cách sang trọng và xa xỉ của giới quý tộc châu Âu hay giới tài phiệt Mỹ. Lagom chính là làm cho mọi thứ trở nên đơn giản và vừa đủ, vì vậy không gian sống cũng phải đơn giản nhưng vẫn đảm bảo được chức năng sử dụng của đồ đạc. 


4. Ăn uống vừa đủ
Lagom trong ẩm thực của người Thụy Điển chính là việc lên kế hoạch nấu nướng và mua sắm cho cả tuần, bạn sẽ không phải mất công nghĩ ngợi về việc làm bếp mỗi ngày. Họ cũng không chế biến những món ăn quá phức tạp mà thiên về việc tận hưởng hương vị tự nhiên nhất của thực phẩm. Việc để thừa thức ăn và lưu cữu trong tủ lạnh là điều tối kỵ, bởi biết vừa đủ sẽ khiến bạn luôn kiểm soát được việc không lãng phí đồ ăn nói riêng và những thứ phục vụ cuộc sống của bạn nói chung. Bạn sẽ không phải lo tái chế đồ thừa như thế nào, vứt chúng đi với tâm trạng áy náy ra sao, và thế là bạn lại đạt được sự tự do ở phương diện này.


Muốn “ít hơn” chính là được “nhiều hơn”, và đó là tinh thần của Lagom. Khi bạn muốn ít hơn, bạn sẽ buộc phải trân trọng những thứ mình đang có, bạn sẽ ít bị ràng buộc bởi ham muốn và những dục vọng ngày càng gia tăng một khi được đáp ứng. Và rồi bạn sẽ nhận lại được nhiều hơn bởi sự vừa đủ chính là cân bằng, sự cân bằng luôn là điều kiện tốt nhất để mọi thứ được vận hành, kể cả cuộc sống của bạn!

Hyggue

Các nước Bắc Âu có hẳn một danh từ riêng để gọi tên phong cách sống của mình: Hygge (phát âm là hoo-ga). Trong ngôn ngữ các đất nước này, ‘hygge’ được mô tả với nghĩa ‘cảm giác ấm áp và thỏa mãn’, hay ‘tận hưởng những điều tốt đẹp trong cuộc sống cùng với những người tốt xung quanh bạn’.

1. Hòa mình vào thiên nhiên là điều đầu tiên
2. Thú vui để thanh lọc đầu óc rất quan trọng
3. Luyện tập thể thao: Đừng thấy khó, khổ, hãy coi đó là niềm vui
4. Đừng coi thường bữa cơm gia đình
5. Xả stress bằng cà phê, ngồi quán xá với bạn bè

Hãy khoan “theo đuổi” Hygge nếu không DIY (Do it yourself – Tự làm)
Nhưng muốn Hygge như người Đan Mạch, nhất thiết bạn phải yêu thích DIY. Đó là cách họ dùng để tạo ra bầu không khí và không gian Hygge. Bởi vì đâu còn thứ gì có thể mang lại cảm xúc dễ chịu bằng việc tự tay sửa soạn kế hoạch của mình một cách chân thành, dù nó không hoàn hảo.

Trang trí nhà cửa và nấu ăn là hai kỹ năng mà người Đan Mạch thích DIY nhất để Hygge. Trong một ngôi nhà Đan Mạch, dấu ấn của mỗi thành viên trong gia đình sẽ dễ dàng được tìm thấy.

Họ luôn tự tạo ra những góc riêng có thể mang lại cảm xúc dễ chịu nhất cho bản thân, gọi là “trạm Hygge”. Đó có thể là bàn ăn trong bếp, là chiếc sofa bên cửa sổ, hoặc một chiếc lều nhỏ căng từ tấm thảm. Nhưng “thiên nhiên” là yếu tố bắt buộc phải có.

Riêng việc nấu ăn thì gần như là sở thích của người Đan Mạch, vì họ yêu ẩm thực. Trong mọi cuộc Hygge, ít khi thiếu vắng thức ăn, đặc biệt là đồ ngọt và thức uống có cồn.
Hygge không phải của riêng người Đan Mạch, họ chỉ là suy nghĩ về nó nhiều hơn, có từ riêng để gọi tên nó, cho nên sẽ dễ dàng tìm thấy hơn. 

Bên cạnh những lợi ích sẽ tồn tại những mặc tiêu cực. Mình sẽ có 1 bài viết tập hợp những mặt tiêu cực của những lối sống này.

Chủ nghĩa kinh nghiệm (P2)

Lịch sử hình thành của Chủ nghĩa kinh nghiệm _ Empiricism

Các hình thức sơ khởi của chủ nghĩa kinh nghiệm bao gồm các công trình nghiên cứu về nhận thức luận của một số nhà triết học, trong đó có Aristotle, Thomas Aquinas và Roger Bacon….

Có lẽ các nhà triết học kinh nghiệm đầu tiên của triết học phương Tây là các Sophist (Ngụy Biện Gia)
(khoảng thế kỷ 2 trước CN), họ đã phủ nhận các suy đoán duy lý về bản chất của thế giới (mà đã rất phổ biến trong các vị tiền bối của họ) để tập trung vào “những thực thể tương đối cụ thể hơn chẳng hạn như con người và xã hội”. Các Ngụy Biện Gia đã viện đến các luận cứ hoài nghi ngữ nghĩa, sử dụng các ví dụ mà người khác có thể dễ dàng thấy được để làm suy yếu các tuyên bố của lý tính thuần túy.

Aristotle

(384–322 TCN)

Phản ứng chống lại cách tiếp cận duy lý và hết sức suy đoán của Plato (427–347 TCN), trong những năm cuối đời, Aristotle (384–322 TCN) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của những gì các giác quan thu nhận được, nghĩa là nhấn mạnh vào các quan sát hậu nghiệm. (Hậu nghiệm: điều gì rút ra được sau những trải nghiệm)
Aristotle dùng thuật ngữ triết học tự nhiên để gọi nhiệm vụ tìm hiểu thế giới tự nhiên, sử dụng cái mà sau này đã được biết với tên lập luận quy nạp (inductive reasoning) để đi đến các phạm trù và nguyên lý dựa trên dữ liệu giác quan. Cách tiếp cận này đã đối ngược sâu sắc với lý thuyết hình thức của Plato – lý thuyết phụ thuộc rất lớn vào các giả thuyết tiên nghiệm (trước kinh nghiệm). Trong các thời kỳ “giữa” và “sau” của mình, Aristotle ngày càng không đồng ý với các quan niệm của Plato và phát triển một sự kỳ vọng ngày càng chặt chẽ về các khẳng định tường minh bằng thực nghiệm cho tất cả các kết luận từ quy nạp.

Aristotle còn khẳng định nguyên lý cốt lõi của chủ nghĩa kinh nghiệm rằng tri thức của con người về thực tại được đặt nền móng bằng trải nghiệm từ các giác quan.

Francis Bacon

(1561–1626)

Triết gia và chính trị gia người Anh Francis Bacon (1561–1626) là một trong những người tiên phong ủng hộ các phương pháp thực nghiệm trong khoa học.

Ông đề cao tính quy nạp (induction) – tức đưa đến lý thuyết tổng quát từ những gì quan sát trong thế giới vật lý. Phương pháp này đã được Sir Isaac Newton chứng minh thành công, ông đã dùng toán học để dẫn ra các định luật chuyển động và trọng trường từ quan sát của mình.

John Locke

(1632–1704)

Tiếp nối truyền thống của Bacon, John Locke (1632–1704), một người Anh khác, được công nhận rộng rãi là triết gia theo chủ nghĩa kinh nghiệm đầu tiên.

Trong tác phẩm Luận bàn về hiểu biết của con người (1690) ông bác bỏ chủ nghĩa duy lý của Descartes, cho rằng chẳng có những thứ như ý tưởng nội tại. Ông cho rằng khi sinh ra, tâm thức là một tabula rasa hay tờ giấy trắng, và kiến thức mà chúng ta có được chỉ nhờ trải nghiệm qua các giác quan.

Có hai nguồn cho các ý niệm của chúng ta: cảm giác và suy tưởng. Trong cả hai trường hợp, ông phân biệt giữa các ý niệm đơn và các ý niệm phức. Các ý niệm đơn không thể phân tích được, và được phân ra thành các tính chất sơ cấp và thứ cấp. Các ý niệm phức là kết hợp của các ý niệm đơn giản hơn và được chia thành các chất, các dạng thức và các quan hệ.

Ông đã đề xuất một quan điểm mới mẻ và có tầm ảnh hưởng rất lớn, trong đó nói rằng tri trức duy nhất mà con người có thể có là tri thức hậu nghiệm, nghĩa là dựa trên các trải nghiệm.

David Hume

(1711–1776)

Triết gia Scotland David Hume (1711–76) đã xét lại cách thức con người hành xử và tư duy, ông bác bỏ chủ nghĩa duy lý thiên về phương pháp tâm lý hoài nghi. Hume kết luận rằng con người bị chi phối bởi ước vọng nhiều hơn lý lẽ, và ý tưởng dẫn xuất từ ấn tượng thông qua các quá trình như ký ức và tưởng tượng. Cách mà ta tư duy được xác định bởi “phong tục”: những phán xét đạo đức của ta dựa trên cảm nhận thay vì trên các nguyên tắc đạo đức trừu tượng, và những khái niệm như nhân quả, ông khẳng định, đơn thuần là thói quen trong não.

Ông phân chia tất cả các tri thức của con người thành hai loại: các quan hệ của ý niệm và sự kiện thực tế. Các mệnh đề toán học và lôgic (chẳng hạn, “bình phương cạnh huyền bằng tổng bình phương hai cạnh góc vuông”) là các ví dụ của các quan hệ của ý niệm, còn các mệnh đề có liên quan đến quan sát nào đó về thế giới (chẳng hạn, “ngày mai mặt trời sẽ mọc”) là các ví dụ của sự kiện thực tế.

Lần lượt, tất cả các “ý niệm” của một người được rút ra từ các “ấn tượng” của người đó. Đối với Hume, một “ấn tượng” gần như tương ứng với cái mà ta gọi là một cảm giác. Khi ghi nhớ hoặc hình dung các ấn tượng như vậy là khi ta có một “ý niệm”. Do đó, ý niệm là bản sao mờ nhạt của cảm giác.

You'll find more love than you've ever known

When you say nothing at all

A country song written by Paul Overstreet and Don Schlitz, entered the Hot Country Singles chart on September 17, 1988.

All day long I can hear people talking out loud
but when you hold me near you drown out the crowd.

Thích bản cover này điên đảo.

Jackie Keith Whitley (1954 – 1989) là ca sĩ nhạc đồng quê người Mỹ đã đưa tác phẩm lên đỉnh cao của nghệ thuật.
Trình bày trong Youtube: Bob và Clint Moffatt. (Endless Summer) _ Mình thật sự thích bản cover này.

Bản của chính Keith Whitley trình bày, cũng rất truyền cảm. Nhạc đồng quê thật sự làm mình thấy thoải mái.

The smile on your face lets me know that you need me
There’s a truth in your eyes saying you’ll never leave me
A touch of your hand says you’ll catch me if ever I fall
Now you say it best when you say nothing at all

Don’t close your eyes

A song written by Bob McDill, and recorded by American country music artist Keith Whitley. It was released in March 1988 as third single from his album of the same name.

I know you loved him
A long time ago
Even now in my arms
You still want him I know
But darling this time
Let your memories die
When you hold me tonight
Don’t close your eyes

Được trình bày bởi Keith Whitley

Nhưng bản cover sau mình thích hơn, chắc có cảnh quay thiết thực hơn :3

Don’t close your eyes, let it be me
Don’t pretend it’s him in some fantasy
Darling just once let yesterday go
And you’ll find more love than you’ve ever known
Just hold me tight when you love me tonight
Don’t close your eyes

Phải một tình yêu mãnh liệt lắm mới có thể nói ” Don’t close your eyes, let it be me”. Thực tại là “Anh”, chứ không phải là anh ta, nên hãy đừng nhắm mắt, hãy nhìn vào anh. Đừng giả vờ đó là anh ta trong ảo mộng. Hãy để quá khứ qua đi, dù chỉ 1 lần. Và em sẽ tìm thấy được nhiều tình yêu hơn em từng biết. Chỉ cần ôm chặt anh khi anh yêu em đêm nay. Don’t close your eyes !…

Chỉ để cho lòng dấu biệt ly?

Có lần tôi thấy một người yêu
Tiễn một người yêu một buổi chiều
Ở một ga nào xa vắng lắm
Họ cầm tay họ bóng xiêu xiêu.

Có lần tôi thấy một người đi
Chẳng biết về đâu nghĩ ngợi gì
Chân bước hững hờ theo bóng lẻ
Một mình làm cả cuộc phân ly.

Tôi đã từng chờ những chuyến xe
Đã từng đưa đón kẻ đi về
Sao nhà ga ấy sân ga ấy
Chỉ để cho lòng dấu biệt ly?

Những bóng người trên sân ga _ Nguyễn Bính

Bài thơ bày tỏ những nỗi niềm của người ra đi và người ở lại trong thời kì chiến tranh khiến người đọc thổn thức mãnh liệt.

Tôi thường nghẹn ngào khi đọc những vần thơ tả cảnh kèm theo những cảm xúc chân thực. Vì nó thực tế và gợi nhớ nhiều điều trong tôi. Cái cảm xúc đó ai cũng có thể thấu cảm cùng tác giả, cùng đồng điệu và chiêm nghiệm nó. Tôi không biết phân tích một bài thơ như nào cho hay. Và thường thì tôi cũng chả tìm được nguồn nào về việc phân tích thơ ca cả. Tôi thích phân tích nó, nhưng vốn văn chương của mình có hạn, viết ra có thể sẽ rất buồn cười.

Thường thì tôi chả thuộc câu thơ khổ thơ nào, nhưng tôi lại thích đọc thơ và trích dẫn nó. Với bài này, khổ thơ tôi thích nhất là:

Có lần tôi thấy một người đi
Chẳng biết về đâu nghĩ ngợi gì
Chân bước hững hờ theo bóng lẻ
Một mình làm cả cuộc phân ly.

Ai ở trong giai đoạn chiến tranh mới cảm nhận được sâu sắc cảnh chia ly. Vợ chồng xa cách, mẹ con xa cách, anh chị em mỗi người mỗi ngả. Biết đầu còn có dịp gặp lại nhau.

Thời đại bây giờ dù có xa cách đến mấy cũng chả thành vấn đề, vấn đề nghiêm trọng là không có internet. !!!

Tôi cũng có những lần đi dạo trong vô định, ko biết đi đâu, cũng không biết mình đang nghĩ ngợi gì. Chỉ là cứ bước đi, thấy thoải mái và có chút sầu cảm. Đi đến một nơi nào đó, mỏi chân quá rồi gọi grab về nhà. Dù rất ít lần như thế, nhưng tôi rất muốn tản bước như vậy. Mỗi lần như thế chắc là tôi đang rơi vào trạng thái khá tệ hại, hoặc quá căng thẳng. Sợ thật, rất sợ cảm giác đó.

Câu cuối, “Một mình làm cả cuộc phân ly”, nghe rất chua chát. Cảm giác như bản thân cô đơn truyền kiếp vậy đó. Tôi không nên nói quá lên về nỗi cô đơn. Vì nó tồn tại trong mỗi người. Trong những người giàu tình cảm nhất hay những người khó chịu nhất. Chỉ là ta không muốn nghĩ đến việc “mình đang cô đơn” mà thôi.

Có dạo, tôi rất siêng nghĩ về việc “cô đơn”, cô đơn nhất là khi có người bên cạnh mà như không. Cảm giác đó tồi tệ hơn việc ta một mình lẻ bóng. Tôi cảm nhận một cách khá là sâu sắc và đau lòng đến nỗi tôi không thể chịu đựng được điều đó. (Tất nhiên có thể tôi đã làm quá lên nỗi cô đơn của mình tại thời điểm đó.) Tôi đã nghĩ mình chả cần phải chịu đựng điều tồi tệ này. Và tôi đã làm điều tôi đã nghĩ. Tôi rời khỏi nơi làm tôi cảm thấy trống trải cô đơn nhất. Tôi lại trở lại tôi với nỗi cô đơn khác, nhẹ nhàng và thi vị hơn. Vui hơn và yêu đời hơn với nỗi cô đơn hiện tại. 🙂

Sân ga, một buổi chiều tà, ở Mt Fuji, Nhật Bản, Năm 2019.

Virus Corona

Đến 06/02/20 _ Một năm kinh tế buồn

Công ty mình cũng có những hành động kiểm soát nhằm hạn chế lây lan dịch bệnh như:

  1. Không chấm vân tay trong tháng 02/20
  2. Rửa tay bằng cồn mỗi khi bước vào công ty
  3. Đeo khẩu trang. (Riêng phòng mình bá đạo, không đeo luôn. Vào công ty có đeo, nhưng vào phòng là tháo ra :v, chứ thực ra cũng khó thở lắm)
  4. Nhân sự gửi toàn bộ CB CNV bảng khảo sát tầm soát Virus (Nhằm mục đích hạn chế những nguy cơ mà nhân viên đó có những liên quan đến dịch bệnh, như bị cúm hay từ vùng có dịch trở về…). Hôm qua phòng Marketing, ngay sát phòng mình, có người bị hơi sốt thôi, là ngay lập tức được cách ly. Phòng hành chính đưa máy xông tinh dầu, xông mùi sả nguyên buổi chiều, thoang thoảng thì được, nhưng với họ như vậy dường như không xua tan được virus hay sao í, xông cho một mùi nồng nặc =)) làm cho phòng mình ai ai cũng đeo khẩu trang (vì mùi quá nồng nặc, gây đau dầu nhức mũi). Sáng nay thấy phòng đó vắng hoe à. Hỏi ra mới biết, GĐ cho những bạn làm online làm tại nhà :v
  5. Phát cho mỗi nhân viên 1 chai Probi 65ml mỗi ngày, nhằm tăng cường sức đề kháng cho cơ thể 😀
  6. Chắc tiếp theo sẽ có thêm một số kiểm soát nữa :v

Create your website at WordPress.com
Get started